Study Area

Những thủ thuật chọn trường vừa sức

0

Nên chọn ngành nào?

Qua nhiều năm tuyển sinh, khối các ngành Y, Dược, Sư phạm vẫn là sự lựa chọn hàng đầu của thí sinh. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây với sự kiện Việt Nam gia nhập WTO nên đã làm rộ lên “phong trào” đầu đơn vào khối các trường kinh tế như ngành Tài chính – Ngân hàng, Kiểm toán, Chứng khoán…

Một số ngành được cho là “hot” trước đây là Công nghệ thông tin, Công nghệ môi trường… lại đang có có xu hướng bão hoà nên nhiều thí sinh đã trở nên “thờ ơ”.

Tuy nhiên, trên thực tế các ngành được cho là “hot” trong thời gian vừa qua lại đang bị “chững lại” trước sự khó khăn của nền kinh tế toàn cầu. Với sự khó khăn này có thể lại đẩy một loạt ngành khác đầy “tiềm năng” lên ngôi.

Như vậy có thể nói xu hướng ngành nào “hot”, ngành nào có “tiềm lực”… sẽ do rất nhiều yếu tố khách quan can thiệp vào. Chính vì vậy việc chọn ngành nghề theo trào lưu sẽ là những lựa chọn “sai lầm” khi mà bạn còn một khoảng thời gian học tập khá dài sau khi trúng tuyển.

Vậy việc chọn ngành nên hình thành từ cơ sở nào để tránh việc nhàm chán khi học, đồng thời lại phát huy được thế mạnh của bản thân? Đáp án của câu hỏi này chỉ vỏn vẹn nằm trong hai từ: “sở thích”.

Sở thích luôn là một trong những tiêu chí quan trọng trong việc hướng nghiệp. Nếu không yêu thích, bạn sẽ không có hứng thú trong công việc, từ đó khó mà có được thành công trong cái nghề của mình. Tuy nhiên, bên cạnh sở thích của mình, bạn cần chú ý thật nhiều đến những tố chất cũng như “sở đoản” của bản thân.

Đừng lầm tưởng những cái thật cơ bản như nếu vẽ giỏi thì có thể trở thành kiến trúc sư hay giỏi văn thì sẽ là nhà báo giỏi. Mỗi ngành nghề luôn đòi hỏi người lao động cần có những tố chất nào đó để có thể hoàn thành tốt công việc, bạn hãy chú ý đến những đòi hỏi đó để tránh sai lầm khi chọn cho mình một nghề, một ngành học thích hợp.

Gia đình, thầy cô là những nơi bạn có thể tham vấn thêm để đưa ra quyết định chính xác cho mình.

Thủ thuật chọn trường vừa sức

Sau khi chọn được ngành phù hợp bạn cần phải xác định là muốn học ngành này ở các trường khu vực nào (miền Bắc, miền Trung hay miền Nam). Sau đó bạn liệt kê tất các các trường ở khu vực mình chọn có tuyển sinh ngành mình muốn đăng ký.

Nếu làm thủ công thì làm việc này rất mất thời gian và khó liệt kê đầy đủ nhưng bạn đã có một kho tàng dữ liệu từ cổng thông tin tuyển sinh của Bộ GD-ĐT để thực hiện thao tác này.

Bạn vào website: http://ts.edu.net.vn/tìm đến mục bậc ĐH, CĐ sau đó chọn tìm nguyện vọng. Tại đây chỉ cần khai báo những thông tin mình cần như chọn ngành, chọn khu vực, khối thi… sau đó bấm “tìm kiếm” sẽ có đầy đủ các dữ liệu các trường mà bạn cần.

Sau khi thực hiện được điều trên, bạn cần thống kê điểm thi của khối mình dự thi ở các năm trước đây để biết số lượng thí sinh có mức điểm dao động trong biên độ nào là lớn. Dựa trên cơ sở này thí sinh sẽ kiểm tra được năng lực của mình nên dự thi vào trường nào.

Để thực hiện thao tác này bạn có thể sử dụng chức năng khảo sát điểm thi ĐH, CĐ của công thông tin tuyển sinh của Bộ GD-ĐT tại địa chỉ: http://ts.edu.net.vn/?page=1.21

Ngoài ra, bạn cũng cần phải tham khảo thêm điểm chuẩn các năm trước đây của các trường mình muốn chọn. Thí sinh cần phải tự đánh giá được kiến thức của mình và dự kiến mức điểm tối thiểu của mình có thể đạt được ở khối dự thi. Từ đó đối chiếu với các danh mục điểm chuẩn để chọn được trường có mức điểm chênh lệch so với điểm dự kiến đạt được từ 2-3 điểm.

Hiện tại Dân trí đã cập nhật toàn cảnh điểm chuẩn ĐH, CĐ năm 2005, 2006, 2007. Riêng đối với năm 2008, Dân trí sẽ sớm cung cấp cho các bạn thí sinh trong thời gian tới.

Như vậy việc chọn ngành, chọn trường vừa sức sẽ là yếu tố để quyết định bạn có trúng tuyển hay không. Nhưng điều trên hết, với các thao thác như trên bạn sẽ tìm đúng một ngành phù hợp để phát huy khả năng của mình nhưng lại không vượt quá sức học bản thân.

Thắc mắc về cách làm hồ sơ ĐKDT?

0

Hỏi: Em muốn theo học chuyên ngành makerting và khả năng của em chỉ thi được 19- 20 điểm trở xuống (khối A) thì em nên thi vào trường đại học nào?(pro_smile_ntjj@yahoo.com)

* Trả lời:

Trước hết em cần phải chọn trường theo sở thích sau đó căn cứ trên sức học để tìm được trường vừa sức.

Theo Ban tư vấn thì với mức 19-20 điểm em nên hướng đến các trường như Viện ĐH Mở HN; ĐH Kinh doanh và Công nghệ HN; ĐH Thương Mại; ĐH Công Đoàn…

Em đang học ĐH Bách Khoa năm thứ 2, em muốn hỏi Ban tư vấn nếu trong kỳ thi đại học năm nay em có thể thi đỗ vào đại học Kinh tế nếu sắp xếp được thời gian em có thể cùng lúc học cả hai trường ĐH được không?( thinht40@yahoo.com.vn)
Ảnh minh họa
Hiện nay chưa có văn bản nào cấm sinh viên theo học 2 trường cùng một lúc. Tuy nhiên, việc thực hiện học cùng lúc hai trường là rất khó khăn vì sẽ trùng về thời gian học cũng như quá trình thi kết thúc các môn.

Nếu em theo học hai trường nhưng vẫn đảm bảo số lượng thời gian học cũng như bố trí học song song để không ảnh hưởng đến trường đang học thì hoàn toàn có thể học hai trường.

Năm nay con tôi thi đại học, cháu muốn thi đại học kinh tế quốc dân. Giả sử không đủ điểm nguyện vọng một, nhưng vẫn đủ điểm chuẩn của trường, của khối dự thi liệu có được chuyển xuống khoa thấp điểm hơn không, có được đỗ vào trường không?( haiduongxanh0002@yahoo.com)

Như Ban tư vấn đã trả lời ở các bài tư vấn trước đây, trường ĐH Kinh tế Quốc dân lấy chuyển chuẩn theo điểm sàn kết hợp với điểm chuẩn ngành.

Nếu con bạn đạt từ mức điểm chuẩn sàn trở lên (điểm chuẩn theo khối) thì đã chắc chắn trúng tuyến vào trường. Nếu không đủ điểm vào ngành ĐKDT (điểm chuẩn ngành) thì sẽ được bố trí sang các ngành học khác cùng khối thi, còn chỉ tiêu và có điểm chuẩn thấp hơn.

Em muốn thi vào trường đại học Y Hà Nội, khoa bác sĩ đa khoa. Với lực học bây giờ, em có thể đạt khoảng 25- 26 điểm. Cho em hỏi với lực học đó em có thể đậu được không? Có phải khoa này hàng năm thường lấy trên 27 điểm không? (phuongmy_1710@yahoo.com)

Việc nói hàng năm trường ĐH Y Hà Nội đều lấy điểm chuẩn ngành bác sỹ đa khoa trên 27 điểm là không chính xác. Theo Ban tư vấn được biết thì chỉ có năm 2008 vừa rồi điểm chuẩn của ngành này ở mức trên 27 điểm, còn các năm trước kia thì không cao đến vậy.

Theo Ban tư vấn thì với mức 25-26 điểm thì khả năng em trúng tuyển ngành này vẫn tương đối cao. Nếu em tự tin thì khả năng càng cao hơn.

Em muốn thi vào trường CNTT (cụ thể là lập trình phần mềm) ở TPHCM, khối A (nếu có ngành lập trình game thì càng tốt). Nhưng lực học của em thì chỉ có thể đạt số điểm từ 19-22 thôi. Vậy em nên chọn trường nào để ĐKDT? Và có thể cho em biết một ít thông tin về trường FPT được không (thời gian đào tạo cũng như học phí, hình thức thi,…)? (o0oleo_suno0o@yahoo.com.vn)

Với mức điểm từ 19-22 thì em hoàn toàn có thể đầu đơn vào trường ĐH Công nghệ Thông tin – ĐH Quốc gia TPHCM hoặc ĐH Bách khoa TPHCM chuyên ngành CNTT.

Bên cạnh đó, em cũng có thể dự thi vào các chuyên ngành CNTT của trường ĐH Hoa Sen; ĐH Tôn Đức Thắng…

Trường ĐH FPT đào tạo duy nhất chuyên ngành kỹ thuật phần mềm, thời gian đào tạo là 4 năm.

Hiện nay mức học phí của trường khá cao so với các trường công lập, tuy nhiên nhà trường cũng tạo điều kiện cho sinh viên nghèo theo học bằng cách cho vay tín dụng.

Hình thức thi của trường là xét tuyển từ những thí sinh tham dự kì thi ĐH khối A,B,D. Những thí sinh dự thi các khối này đạt từ mức điểm sàn của Bộ GD-ĐT trở lên là đáp ứng được điều kiện cần để vào trường.

Tuy nhiên, thí sinh bắt buộc phải tham dự kì thi sơ tuyển được tổ chức vào tháng 4/2009. Chỉ những thí sinh đáp ứng được kì thi sơ tuyển này kết hợp với điều kiện cần ở trên mới trở thành sinh viên chính thức của ĐH FPT.

Để biết thêm thông tin về trường em nên tham khảo trực tiếp tại website: http://www.fpt.edu.vn/

Năm vừa rồi em chưa vào được trường ĐH Kinh Doanh &Công nghệ, nhưng năm nay em muốn thi Cao Đẳng liệu trường đó có tổ chức thi hay không hay trường chỉ tổ chức thi ĐH và xét tuyển xuống hệ CĐ? (ngocphuong26@gmail.com)

Hệ CĐ của trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ HN không tổ chức thi tuyển mà chỉ xét tuyển từ những thí sinh tham dự kì thi ĐH của trường nhưng chưa trúng tuyển.

Nếu sức học em không thể vào hệ ĐH thì tốt nhất em nên đăng ký NV1 vào trực tiếp hệ CĐ bằng cách sử dụng cả mục 2 và mục 3 trong hồ sơ ĐKDT.

Hiện tại em đã tốt nghiệp Trường ĐH Sư phạm TPHCM khoa Ngoại Ngữ (Tiếng Anh) nay em muốn học thêm ngành Công Nghệ thông tin của 1 trường nào đó mà không biết được trường nào có tuyển sinh (xét tuyển, thi tuyển) mà không phải thi đại học không? (nguyenductho1985@gmail.com)

Bạn có thể học văn bằng 2 chuyên ngành CNTT. Tuy nhiên để theo học hệ này thì bắt buộc em phải thi tuyển.

Hiện nay hầu hết các trường ĐH đào tạo chính quy chuyên ngành CNTT đều tuyển sinh văn bằng 2. Do đó, để có thông tin đầy đủ em nên liên hệ trực tiếp với Phòng đào tạo của trường mình muốn đăng ký nhé.

Bố em là dân tộc Kinh, mẹ em là dân tộc Tày, theo giấy khai sinh thì em mang dân tộc Kinh, vậy thì em có được cộng điểm ưu tiên đối tượng không? (lucky_star_18990@yahoo.com.vn)

Theo quy định tuyển sinh thì thí sinh có bố hoặc mẹ là người dân tộc thiểu số sẽ được hưởng mức đối tượng ưu tiên 01.

Ở đây em có mẹ là người dân tộc thiểu số thì chắc chắn sẽ được hưởng quyền ưu tiên này mà không phụ thuộc vào việc em là người dân tộc gì
.
Con tôi học ban A, dự kiến thi đợt 1 vào ĐH Kinh tế TPHCM. Nguyện vọng kế tiếp là: Khoa QTKH – ĐH Tôn Đức Thắng (thường có điểm chuẩn thấp hơn 4 điểm). Nếu cháu không đậu trường Kinh tế thì có được xét tuyển vào ĐH Tôn Đức Thắng không?

Đến đợt thi thứ 2 (Ngày 9-10/7/2009), cháu có thể dự thi khối D1 nữa không?

Tôi muốn biết mỗi đợt tối đa có bao nhiêu cơ hội cho các nguyện vọng tiếp theo. Các trường xét nguyện vọng 2 trong trường hợp nào? Điều kiện nào? (guanyu_87@yahoo.com.vn)

Thí sinh hoàn toàn được phép dự thi hai khối khác nhau ở hai đợt thi khác nhau. Cụ thể ở trường hợp bạn nêu trên thì đợt 1 con bạn thi khối A, đợt hai con bạn thi khối D1. Như vậy là hoàn toàn được phép dự thi cả hai đợt thi ĐH.

Cũng cần phải lưu ý với bạn, khi làm hồ sơ ĐKDT thì thí sinh chỉ có một thể đăng ký duy nhất 1 nguyện vọng mà thôi (người ta thường gọi là NV1). Chỉ khi con bạn trượt NV1 nhưng có điểm thi đạt từ mức điểm sàn của Bộ GD-ĐT trở lên thì sẽ được cấp giấy chứng nhận điểm thi để tham dự xét tuyển NV2, NV3.

Như vậy khi trượt NV1 thí sinh sẽ có thêm hai cơ hội để tham gia xét tuyển vào trường các khác có nhu cầu tuyển thêm.

Đối với trường hợp con bạn dự thi hai khối A và D1 thì đồng nghĩa có hai NV1 là trường ĐH Kinh tế TPHCM và trường ĐH Luật TPHCM.

Nếu con bạn trượt cả hai NV1 trên sẽ có thêm 4 NV tiếp theo (mỗi khối thi sẽ có thêm 2 NV đó là NV2, NV3).

Việc có được tham gia xét tuyển vào các trường ĐH khác hay không còn phụ thuộc trường có thông báo xét tuyển các NV kế tiếp hay không. Việc xét tuyển tiếp hay không là phụ thuộc vào từng trường, nhưng thông thường Bộ GD-ĐT khuyến khích các trường dành ít nhất 10% chỉ tiêu cho NV2 hoặc NV3.

Các trường thường thông báo xét tuyển NV kế tiếp khi điểm chuẩn NV1 quá thấp hoặc tuyển chưa đủ chỉ tiêu.

Bạn cũng nen chú ý một điều: thí sinh chỉ được phép nộp hồ sơ vào trường có nhu cầu xét tuyển khi điểm thi đạt từ mức điểm sàn quy định nhà trường đưa ra trở lên, cùng khối thi và nằm trong vùng tuyển sinh.

Những thông tin chính thức về thi và tuyển sinh năm 2009

0

Bộ GD-ĐT vừa công bố kết luận chính thức của thứ trưởng thường trực Bành Tiến Long tại Hội nghị thi và tuyển sinh năm 2009 qua cầu truyền hình vừa qua.

Theo đó, các kỳ thi và tuyển sinh năm 2009 phải được tổ chức trật tự, an toàn, nghiêm túc, công bằng, giảm bớt nặng nề, tốn kém; đảm bảo cho kết quả thi phản ánh đúng, khách quan chất lượng dạy và học, tạo tiền đề vững chắc cho việc tiếp tục thực hiện lộ trình đổi mới công tác thi và tuyển sinh theo hướng tiến tới một kỳ thi THPT quốc gia.

Với nhiều ý kiến về lệ phí thi và tuyển sinh của các đại biểu, Bộ GD-ĐT cho biết sẽ làm việc cụ thể với Bộ Tài chính để tăng lệ phí tuyển sinh và thu một lần lệ phí đăng ký dự thi với lệ phí dự thi khi thí sinh nộp hồ sơ đăng ký dự thi tuyển sinh ĐH, CĐ.

Đối với kỳ thi tốt nghiệp THPT và bổ túc THPT

1. Tổ chức thi theo cụm. Trên địa bàn mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức cho học sinh lớp 12 hoặc thí sinh tự do thi theo các cụm trường. Mỗi cụm có ít nhất ba trường THPT (hoặc ba trung tâm giáo dục thường xuyên), có thể thành lập hội đồng hỗn hợp hai trường THPT và hai trung tâm giáo dục thường xuyên, tập trung về thành phố, thị xã, thị trấn nơi có điều kiện tốt hơn để tổ chức thi.

Mỗi cụm trường thành lập một Hội đồng coi thi. Mỗi địa điểm thi bố trí một phó chủ tịch Hội đồng làm trưởng điểm thi. Trường hợp đặc biệt, những trường ở vùng xa, vùng cao, hải đảo đi lại khó khăn, không thể tổ chức thi theo cụm, hoặc chỉ tổ chức được hai trường/cụm, các sở GD-ĐT báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của Bộ.

Trong mỗi Hội đồng coi thi, danh sách thí sinh được lập theo ba ban: ban Khoa học tự nhiên, ban Khoa học xã hội và nhân văn, ban Cơ bản; trong từng ban, lại xếp lần lượt các ngoại ngữ; cuối cùng tên thí sinh được xếp theo thứ tự a, b, c,…, sau đó mới xếp lần lượt vào các phòng thi. Những phòng thi cuối cùng có thể được xếp ghép các ban với nhau.

2. Chỉ có thanh tra của Bộ làm nhiệm vụ giám sát ở hành lang và xung quanh phòng thi. Giám thị ngoài phòng thi thực hiện các nhiệm vụ do chủ tịch Hội đồng phân công, ở khu vực bên ngoài, không nằm trong phạm vi hành lang phòng thi và hỗ trợ thanh tra khi cần thiết. Bộ GD-ĐT căn cứ tình hình cụ thể, bố trí số lượng thanh tra của Bộ tại các cụm thi.

3. Bộ GD-ĐT huy động giám thị từ trường ĐH, CĐ coi thi trong phòng thi, nhất là ở những nơi không thể tổ chức thi theo cụm hoặc chỉ tổ chức cụm thi có hai trường.

4. Đổi chéo bài thi tự luận giữa các tỉnh để chấm thi: Thực hiện đổi chéo bài thi giữa các tỉnh lân cận nhau để chấm: tỉnh A chấm bài cho tỉnh B, tỉnh B chấm bài cho tỉnh C…(những tỉnh lớn có nhiều thí sinh dự thi có thể sẽ chấm thi cho một số tỉnh nhỏ có ít thí sinh). Bộ GD-ĐT quyết định cụ thể việc đổi chéo bài thi giữa các tỉnh.

5. Năm học 2009 không tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT, bổ túc THPT lần 2.

Đối với kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ hệ chính quy năm 2009

Thí sinh tự do nộp hồ sơ đăng ký dự thi ĐH-CĐ năm 2008 tại Cơ quan đại diện Bộ GD-ĐT ở TP.HCM chiều 17-4 – Ảnh: QUỐC DŨNG

Về cơ bản công tác thi tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2009 vẫn giữ ổn định theo giải pháp ba chung (chung đề, chung đợt, chung kết quả xét tuyển) như năm 2008, tuy nhiên có một số điểm mới sau:

1. Khung điểm ưu tiên theo đối tượng và khu vực tuyển sinh (đối với các trường đóng tại các vùng dân tộc thiểu số và các trường được giao nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương).

- Đối với các trường đóng tại vùng dân tộc thiểu số, mức chênh lệch điểm trúng tuyển giữa các nhóm đối tượng được phép lớn hơn 1 điểm, nhưng không quá 1,5 điểm, để số thí sinh trúng tuyển là người dân tộc thiểu số đạt tỉ lệ cần thiết.

- Đối với các trường được giao chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo theo địa chỉ sử dụng và các trường có nhiệm vụ đào tạo nhân lực cho địa phương, mức chênh lệch điểm trúng tuyển giữa các khu vực được phép lớn hơn 0,5 điểm, nhưng không quá 1 điểm để tuyển đủ chỉ tiêu đã được giao.

2. Cấu trúc đề thi tuyển sinh ĐH, CĐ theo đề thi chung của Bộ GD-ĐT. Đề thi được ra theo chương trình THPT hiện hành, chủ yếu là chương trình lớp 12.

- Đối với các môn: toán, vật lý, hóa học, sinh học, ngữ văn, lịch sử, địa lý, đề thi mỗi môn gồm hai phần: phần chung cho tất cả thí sinh, ra theo nội dung giống nhau giữa chương trình chuẩn và chương trình nâng cao; phần riêng ra theo từng chương trình: chương trình chuẩn và chương trình nâng cao. Thí sinh chỉ được chọn một phần riêng thích hợp để làm bài; thí sinh nào làm cả hai phần riêng thì bài làm bị coi là phạm quy, cả hai phần riêng đều không được chấm. Chỉ chấm điểm phần chung.

- Đối với các môn ngoại ngữ (tiếng Anh, Nga, Pháp, Trung, Đức, Nhật): đề thi mỗi môn chỉ có phần chung dành cho tất cả thí sinh, ra theo nội dung giống nhau giữa chương trình chuẩn và chương trình nâng cao, không có phần riêng.

3. Các sở GD-ĐT, các trường ĐH, CĐ nhất thiết phải sử dụng chương trình máy tính tuyển sinh của Bộ GD-ĐT (bản quyền của Vụ Giáo dục ĐH) để đảm bảo sự thống nhất trong toàn hệ thống, không sử dụng bất cứ phần mềm nào khác. Việc nhập liệu hồ sơ đăng ký dự thi của thí sinh phải đảm bảo chính xác, tuyệt đối không được nhầm lẫn, sai sót. Giấy chứng nhận kết quả thi ĐH, CĐ theo đề thi chung của Bộ GD-ĐT số 1 và số 2, phiếu báo điểm phải thống nhất với mẫu đã thiết kế, không được thay đổi và phải điền đầy đủ thông tin cần thiết theo quy định của quy chế tuyển sinh hiện hành.

4. Tuyển sinh đào tạo theo địa chỉ sử dụng: chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo theo địa chỉ sử dụng nằm trong tổng chỉ tiêu được phê duyệt. Các trường công bố công khai về chỉ tiêu, ngành nghề đào tạo, địa chỉ sử dụng trong cuốn “Những điều cần biết về tuyển sinh ĐH, CĐ hệ chính quy năm 2009”; chỉ tuyển sinh đào tạo theo địa chỉ sử dụng bằng hình thức xét tuyển những thí sinh đã dự thi ĐH, CĐ theo đề thi chung của Bộ GD-ĐT.

5. Các trường ĐH, CĐ ngoài công lập, công bố công khai mức thu học phí hàng tháng (hoặc năm học hoặc cả khóa học) đối với khóa tuyển sinh năm 2009 trong cuốn “Những điều cần biết về tuyển sinh ĐH, CĐ hệ chính quy năm 2009”. Thông tin về loại hình trường cũng được làm rõ trong cuốn “Những điều cần biết về tuyển sinh ĐH, CĐ hệ chính quy năm 2009”.

6. Bộ GD-ĐT phát hành sớm cuốn “Những điều cần biết về tuyển sinh ĐH, CĐ hệ chính quy năm 2009” tạo điều kiện cho thí sinh chủ động và có đầy đủ thông tin để khai và nộp hồ sơ đăng ký dự thi tuyển sinh ĐH, CĐ.

Đối với kỳ thi tuyển sinh trung cấp chuyên nghiệp năm 2009

Thí sinh làm bài thi môn hóa sáng 5-7 tại điểm thi Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM trong kỳ thi tuyển sinh ĐH năm 2008 – Ảnh: QUỐC DŨNG

1. Chỉ tiêu đào tạo trung cấp chuyên nghiệp (TCCN) năm 2009 đối với các trường ĐH nhất là các trường không có truyền thống đào tạo TCCN sẽ điều chỉnh theo hướng giảm dần từ 2009 đến năm 2012 mỗi năm giảm từ 15% đến 20%, để các trường tập trung vào nhiệm vụ chính là đào tạo bậc ĐH và sau ĐH. Ngoài ra, việc xác định chỉ tiêu đào tạo TCCN còn căn cứ vào các hợp đồng đào tạo theo địa chỉ để đáp ứng nhu cầu của các cơ quan, doanh nghiệp sử dụng lao động.

2. Năm 2009, việc tuyển sinh TCCN tiếp tục thực hiện theo hình thức xét tuyển (không tổ chức thi) để tuyển sinh, trừ các ngành đào tạo năng khiếu.

3. Đối tượng tuyển sinh vào TCCN bao gồm: học sinh đã tốt nghiệp THPT và THCS hoặc tương đương (tùy theo đối tượng tuyển của từng trường). Ngoài ra, Bộ GD-ĐT khuyến khích các trường xét tuyển những thí sinh đã dự thi tốt nghiệp THPT, bổ túc THPT nhưng chưa đủ điều kiện để được công nhận tốt nghiệp được vào học TCCN. Tùy theo đối tượng tuyển sinh, đặc điểm, yêu cầu của ngành đào tạo và tình hình cụ thể của từng trường, các trường có thể lựa chọn tiêu chí xét tuyển là kết quả học tập ở phổ thông hoặc kết quả thi tuyển sinh vào ĐH, CĐ năm 2009 của thí sinh để xét tuyển vào TCCN.

4. Các sở GD-ĐT, các trường TCCN và các trường ĐH, CĐ có đào tạo TCCN nhất thiết phải sử dụng chương trình máy tính tuyển sinh của Bộ GD-ĐT (bản quyền của Vụ Giáo dục chuyên nghiệp) để đảm bảo sự thống nhất trong toàn hệ thống, không sử dụng bất cứ phần mềm nào khác.

QUỐC DŨNG

Sẽ tăng lệ phí tuyển sinh ĐH, CĐ

0

Điểm thi theo đề ĐH và đề CĐ có được xét tuyển như nhau? Điểm sàn và điểm tối thiểu khác nhau như thế nào? Lệ phí tuyển sinh năm 2009 có tăng hay không?… Đó là những băn khoăn của đông đảo thí sinh trước kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2009 – kỳ thi cuối cùng theo phương thức “ba chung”.

Về những vấn đề trên, Thứ trưởng thường trực Bộ GD-ĐT Bành Tiến Long cho biết:

- Kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2009 cơ bản được giữ ổn định theo giải pháp ba chung như năm trước. Tuy nhiên, có một số điểm mới được điều chỉnh và sẽ được bổ sung, sửa đổi trong quy chế tuyển sinh.

Trong đó, thí sinh cần chú ý đến cấu trúc đề thi. Do năm nay là năm đầu tiên có khóa HS tốt nghiệp theo chương trình THPT phân ban đại trà, vì thế cấu trúc đề thi chung của Bộ GD-ĐT sẽ đáp ứng đúng theo nội dung chương trình THPT phân ban, có phần chung và phần riêng phù hợp với chương trình chuẩn và chương trình nâng cao, trừ môn ngoại ngữ sẽ không có phần riêng. Đối với phần riêng ra theo từng chương trình: chương trình chuẩn và chương trình nâng cao, thí sinh chỉ được chọn một phần riêng để làm bài. Nếu thí sinh làm cả hai phần riêng thì bài làm bị coi là phạm quy, cả hai phần riêng đều không được chấm, chỉ được chấm điểm phần chung.

* Trong quy định về xét tuyển, Bộ GD-ĐT có quy định về điểm sàn và điểm tối thiểu. Hai điểm này có gì khác nhau?

- Điểm tối thiểu có thể hiểu chính là điểm sàn đối với kết quả thi theo đề CĐ chung của Bộ GD-ĐT (đối với các trường CĐ tổ chức thi trong đợt ba).

Do mức độ yêu cầu của đề thi ĐH và đề thi CĐ khác nhau nên bộ không quy định một điểm sàn chung cho hệ CĐ đối với cả hai đề ĐH và CĐ. Vì thế đối với kết quả thi theo đề ĐH, Bộ GD-ĐT sẽ xác định điểm sàn ĐH và điểm sàn CĐ (thấp hơn 3 điểm tương ứng với từng khối thi) làm điều kiện để thí sinh được tham gia xét tuyển. Còn đối với kết quả thi bằng đề thi CĐ, mức điểm để đủ điều kiện tham gia xét tuyển sẽ là một mốc điểm tối thiểu. Quy định là “điểm tối thiểu” để phân biệt với “điểm sàn CĐ”. Tùy theo kết quả thi cụ thể của thí sinh, mức điểm tối thiểu có thể bằng hoặc cao hơn hay thấp hơn điểm sàn CĐ.

TS Phạm Tấn Hạ (phó trưởng phòng đào tạo Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM) trả lời về thông tin tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2008 tại ngày hội tuyển sinh ở Bà Rịa – Vũng Tàu do báo Tuổi Trẻ tổ chức-Ảnh: NHƯ HÙNG

* Thưa thứ trưởng, có sự thay đổi nào không về mức điểm ưu tiên khu vực và đối tượng?

- Có sự điều chỉnh khung điểm ưu tiên theo đối tượng và khu vực tuyển sinh nhưng chỉ đối với các trường đóng tại các vùng dân tộc thiểu số và các trường được giao nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương chứ không phải áp dụng đại trà. Nội dung điều chỉnh này được sửa đổi trong điều 33 của quy chế tuyển sinh.

Thời gian và nơi nhận hồ sơ ĐKDT

Thời hạn thu nhận hồ sơ ĐKDT, lệ phí ĐKDT quy định thống nhất trên toàn quốc là từ ngày 10-3 đến hết ngày 10-4-2009 nếu thí sinh nộp theo hệ thống của các sở GD-ĐT. Từ ngày 11-4 đến hết ngày 17-4, thí sinh nộp trực tiếp hồ sơ và lệ phí ĐKDT tại các trường tổ chức thi.

Thí sinh đang học lớp 12 tại trường THPT nào thì nộp hồ sơ tại trường đó. Các đối tượng khác, trong đó có thí sinh tự do, vãng lai, nộp hồ sơ và lệ phí ĐKDT tại các địa điểm thu nhận do sở GD-ĐT quy định.

Khi nộp hồ sơ ĐKDT, thí sinh cần lưu ý: không được nhầm lẫn với phương thức nộp hồ sơ đăng ký xét tuyển NV2, NV3 sau này, hồ sơ ĐKDT phải nộp trực tiếp tại các điểm thu theo quy định như đã nói ở trên, tuyệt đối không gửi hồ sơ qua đường bưu điện vì hồ sơ sẽ không hợp lệ và không có giá trị để được dự thi. Khi nộp hồ sơ, thí sinh chú ý phải ký nhận và nhận lại tờ phiếu số 2 có chữ ký của người thu nhận và đóng dấu đầy đủ. Tờ phiếu số 2 là một căn cứ pháp lý quan trọng để thí sinh đối chiếu trong các trường hợp bị sai sót thông tin, thất lạc giấy báo thi, thẻ dự thi… sau này.

Theo quy định mới áp dụng từ kỳ thi tuyển sinh 2009, để đảm bảo chất lượng đầu vào đào tạo ĐH, hạn chế tình trạng điểm trúng tuyển của một số trường ở mức quá thấp, Bộ GD-ĐT quy định mức điểm chênh lệch giữa các đối tượng ưu tiên đối với các trường đóng tại vùng dân tộc thiểu số được lớn hơn 1 điểm nhưng không quá 1,5 điểm, tức là giảm 0,5 điểm so với quy định trước đây. Tương tự, mức điểm chênh lệch giữa các khu vực ưu tiên đối với các trường được giao chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo theo địa chỉ sử dụng và các trường có nhiệm vụ đào tạo nhân lực cho địa phương được phép lớn hơn 0,5 điểm nhưng không quá 1 điểm.

* Hai đợt thi ĐH và đợt thi CĐ đều do Bộ GD-ĐT ra đề thi chung, vậy kết quả thi bằng đề thi ĐH và CĐ có được sử dụng để xét tuyển như nhau?

- Tuy cùng là đề thi chung do Bộ GD-ĐT biên soạn nhưng mức độ, yêu cầu trong nội dung đề thi ĐH và CĐ có sự khác nhau. Do đó kết quả thi bằng đề ĐH và đề CĐ không được sử dụng để đăng ký xét tuyển như nhau.

Đối với kết quả thi bằng đề thi ĐH chung có thể sử dụng để đăng ký xét tuyển vào các trường ĐH và CĐ khác. Nhưng kết quả thi bằng đề thi CĐ chung chỉ được sử dụng để đăng ký xét tuyển vào các trường CĐ và hệ CĐ trong các trường ĐH, không thể dùng để đăng ký xét tuyển vào ĐH. Ngay cả đối với hệ CĐ trong các trường ĐH, việc có chấp nhận cho thí sinh dự thi bằng đề CĐ đăng ký xét tuyển hay không sẽ do hội đồng tuyển sinh nhà trường quyết định, tùy theo điều kiện, nguồn tuyển cụ thể của từng trường.

* Thưa thứ trưởng, mức lệ phí đăng ký dự thi (ĐKDT), lệ phí thi năm nay có tăng và thay đổi cách thu (nộp chung một lần cùng với hồ sơ ĐKDT) hay không?

- Bộ GD-ĐT sẽ đề xuất với Bộ Tài chính tăng mức lệ phí tuyển sinh. Dự kiến lệ phí ĐKDT sẽ tăng từ 40.000 đồng hiện nay lên 50.000 đồng/hồ sơ. Lệ phí dự thi vẫn giữ nguyên. Nhưng cách thu lệ phí tuyển sinh cũng sẽ thay đổi, sẽ thu cả hai loại phí ĐKDT và phí dự thi cùng lúc khi thí sinh nộp hồ sơ ĐKDT. Đối với lệ phí xét tuyển hiện quy định là 15.000 đồng/hồ sơ sẽ giữ nguyên. Lệ phí tuyển sinh đối với các môn năng khiếu cũng dự kiến đề xuất tăng lên 100.000 đồng/thí sinh so với mức 80.000 đồng theo quy định hiện nay.

* Xin cảm ơn thứ trưởng.

Trường ra đề thi môn năng khiếu

Chiều 4-2, Thứ trưởng thường trực Bộ GD-ĐT Bành Tiến Long đã ký ban hành thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế tuyển sinh ĐH, CĐ hệ chính quy, áp dụng từ năm 2009.

Cụ thể về đề thi, điều 2 của quy chế được sửa đổi, bổ sung như sau: Đối với các trường tuyển sinh ngành năng khiếu, tổ chức môn thi văn hóa và môn năng khiếu, các môn văn hóa thi theo đề thi chung của Bộ GD-ĐT, các môn thi năng khiếu thi theo đề thi riêng của trường. Đặc biệt, điều 33 của quy chế tuyển sinh về khung điểm ưu tiên theo đối tượng và khu vực tuyển sinh đối với các trường đóng tại vùng dân tộc thiểu số và các trường dành chỉ tiêu để đào tạo theo địa chỉ, các trường có nhiệm vụ đào tạo nhân lực cho địa phương được sửa đổi theo hướng giảm mức điểm ưu tiên chênh lệch giữa các đối tượng, khu vực ưu tiên so với quy định trước đây. Theo đó, mức điểm ưu tiên giữa các đối tượng chỉ được chênh lệch không quá 1,5 điểm, giữa các khu vực không quá 1 điểm.

Quy chế sửa đổi quy định cụ thể ở điều 10 về công tác chấm thi là “cán bộ thực hiện việc dồn túi, đánh số phách bài thi không được tham gia tổ thư ký chấm thi và ngược lại”. Về phía thí sinh, quy chế bổ sung hình thức xử lý kỷ luật ở mức tước quyền vào học ở các trường ngay trong năm đó và tước quyền tham dự kỳ thi tuyển sinh vào các trường trong hai năm tiếp theo hoặc đề nghị các cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những trường hợp sử dụng giấy chứng nhận kết quả thi không hợp pháp.

THANH HÀ thực hiện

Học lịch sử thế nào để thi tốt?

0

Khi học lịch sử, các em không có điều kiện để trực tiếp quan sát các sự kiện, nhân vật lịch sử. Vì vậy khi học môn này rất cần khả năng tư duy độc lập, khả năng hình dung. Vì thế khi học các em nên suy nghĩ để tập trung vào những kiến thức cơ bản.

Đó là những nhân vật, sự kiện, khái niệm, qui luật và bài học lịch sử mà thiếu nó thì chúng ta không thể tái hiện được một giai đoạn lịch sử.

Tạo cách nhớ cho mình

Một số thủ thuật ghi nhớ là các em có thể lấy ngày sinh hay những ngày kỷ niệm quan trọng của mình để làm mốc ghi nhớ sự kiện lịch sử. Cũng có thể lấy những sự kiện lịch sử thế giới đã nhớ làm mốc để nhớ sự kiện lịch sử dân tộc và ngược lại. Ghi nhớ bằng việc thống kê lại những sự kiện trong cùng một thời kỳ hay một giai đoạn có ngày, tháng giống nhau, hay số cuối của năm giống nhau, những sự kiện diễn ra trên một địa phương… và suy nghĩ sáng tạo ra những cách nhớ mới cho riêng mình.

Sau khi đã đi từ việc ghi nhớ các sự kiện cụ thể, chúng ta phải tìm cách ghi nhớ theo hướng ngược lại là đi từ hệ thống, khái quát trở về cụ thể bằng việc xem lại mục lục của sách giáo khoa, xem trong chương trình đã học có bao nhiêu chương (hay giai đoạn lịch sử), nội dung xuyên suốt của mỗi giai đoạn là gì, sự kiện nào thể hiện tiêu biểu cho nội dung đó. Công đoạn này có rất có ý nghĩa, nó giúp các em nắm một cách bao quát những nội dung và giai đoạn lịch sử, tránh được việc lẫn lộn các giai đoạn và sự kiện lịch sử với nhau.

Ngoài ra, trong quá trình học các em có thể tự mình lập ra các bảng, biểu, sơ đồ… để ghi nhớ được tốt hơn. Trong quá trình học tập nếu thấy có một số khái niệm thuật ngữ chưa hiểu thì phải tra từ điển hay hỏi ngay thầy cô giáo để hiểu sâu hơn những vấn đề lịch sử.

Việc ghi nhớ (học thuộc) kiến thức lịch sử nói trên mới giúp các em trả lời được các câu hỏi: Ở đâu? Khi nào? Diễn ra như thế nào? (để biết). Còn để nhận thức được bản chất các sự kiện lịch sử (hiểu) thì các em còn phải suy nghĩ để trả lời một câu hỏi nữa: Tại sao? Điều này thật khó nhưng nếu các em chủ động suy nghĩ thì sẽ nhớ rất lâu.

Phải nắm kiến thức khái quát

Đề thi trong nhiều năm qua vẫn bám sát chương trình và sách giáo khoa, thường trong một đề thi gồm bốn câu, có một câu hỏi khó để phân hóa học sinh. Với loại câu hỏi này thí sinh phải nắm kiến thức một cách khái quát, tổng hợp thì mới làm tốt được.

Cần đọc kỹ đề, dành 10-15 phút để suy nghĩ về yêu cầu của đề ra. Viết đề cương và ghi nhanh những ý nghĩ, kiến thức chợt lóe lên trong đầu để khỏi quên. Nên phân bố thời gian cho các câu một cách hợp lý, có thể ghi thời gian dành cho từng câu, từng phần vào đề cương để nhắc nhở cho khỏi quên trong quá trình làm bài. Câu nào dễ làm trước. Đừng mất thời gian nhiều cho phần mở bài không cần thiết, nên đi thẳng vào vấn đề để tiết kiệm thời gian. Viết nhanh nhưng cố gắng viết rõ ràng, câu văn trong sáng, rõ nghĩa, trình bày đẹp.

PGS.TS NGÔ MINH QUANG (trưởng khoa lịch sử Trường ĐH Sư phạm TP.HCM)

Hướng dẫn học và làm bài thi trắc nghiệm hóa học

0

Sau khi ban hành cấu trúc đề thi trắc nghiệm các môn: Anh văn, vật lý, hóa học và sinh học, dành cho các thí sinh chuẩn bị tham gia kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH, CĐ 2008, Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục (Bộ GD-ĐT) cũng đã có tài liệu hướng dẫn cách học, cách trả lời nhằm trang bị những kiến thức trong quá trình ôn tập, cũng như kết quả làm bài trắc nghiệm các môn trên một cách tốt nhất.

Được sự đồng ý của cục trưởng Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục – TS Nguyễn An Ninh, từ số báo này Tuổi Trẻ sẽ lần lượt đăng tải các nội dung hướng dẫn này.

1. Đặc điểm chung của đề thi trắc nghiệm môn hóa học cũng như các môn khác là phạm vi nội dung thi rất rộng. Đối với những nội dung cụ thể, để làm bài trắc nghiệm phải nắm vững và vận dụng lý thuyết về cấu tạo nguyên tử, liên kết hóa học, bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học, sự điện ly, phản ứng oxi hóa – khử, tốc độ phản ứng, cân bằng hóa học, đại cương về hóa học hữu cơ…

2. Mức độ yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cần đạt được trong đề thi trắc nghiệm môn hóa học:

a) Về lý thuyết:

- Biết hoặc hiểu được những kiến thức chung về lý thuyết hóa học;

- Biết hoặc hiểu được tính chất hóa học cơ bản của các chất vô cơ và các chất hữu cơ trình bày trong chương trình.

- Biết một số ứng dụng, phương pháp điều chế một số chất cụ thể.

Ví dụ: Các kim loại kiềm, kiềm thổ và nhôm đều có tính chất hóa học cơ bản chung là:

A: Tính khử yếu. B. Tính oxi hóa yếu.

C. Tính oxi hóa mạnh. D. Tính khử mạnh.

b) Về thực hành hóa học:

- Biết hiện tượng quan sát được của một số phản ứng hóa học đặc trưng đã có trong bài học và bài thực hành hóa học lớp 12.

- Phân biệt các chất bằng phương pháp hóa học.

Ví dụ 1: Dung dịch các chất có pH nhỏ hơn 7 là

A. NaCl.   B. Na2CO3

C. CH3COONa.  D. AlCl3

Ví dụ 2: Trường hợp nào sau đây có phản ứng tạo thành chất rắn màu xanh?

A. Cho dung dịch NaOH vào ống nghiệm đựng dung dịch NaHCO3

B. Cho đinh Fe vào ống nghiệm đựng dung dịch CuSO4

C. Cho dung dịch KOH vào ống nghiệm đựng dung dịch CuCl2

D. Cho dung dịch HNO3 vào ống nghiệm đựng CuO.

c) Về bài tập hóa học:

Trong đề thi, các bài tập hóa học được ra dưới dạng câu trắc nghiệm có nội dung tính toán không quá phức tạp, có thể giải nhanh, gọn để chọn phương án đúng.

Ví dụ: Giả sử cho 7,8 gam kali kim loại vào 192,4 gam nước, thu được m gam dung dịch và một lượng khí thoát ra. Giá trị của m là (cho H = 1, O = 16, K = 39)

A. 203,6. B. 200,2. C. 198. D. 200

3) Để tìm được nhanh và chính xác phương án đúng trong câu trắc nghiệm môn hóa học, thí sinh cần:

a) Nhớ các khái niệm, tính chất, vận dụng vào từng trường hợp cụ thể để ra quyết định chọn phương án đúng. Đọc thật kỹ, không bỏ sót phần nào của phần dẫn để có thể nắm thật chắc nội dung mà đề thi yêu cầu chúng ta trả lời. Đặc biệt chú ý tới các từ có ý phủ định trong phần dẫn như “không”, “không đúng”, “sai”…

Ví dụ: Dung dịch chất nào sau đây không làm quỳ tím hóa đỏ?

A. C2H2OH.  B. CH3COOH

C. HCl.  D. HCOOH

Nhận xét: Dung dịch làm quỳ tím hóa đỏ có trong môi trường axit. Dung dịch không làm quỳ tím hóa đỏ phải là dung dịch có trong môi trường kiềm hoặc trung tính. Đọc nhanh các phương án thấy ngay B,C,D đều là axit, chỉ có ancol etylic không làm quỳ tím hóa đỏ. Vậy phương án cần chọn là A.

b) Nếu đã gặp ngay một phương án cho là đúng thì vẫn phải đọc lướt qua các phương án còn lại.

Ví dụ: Ở điều kiện thích hợp, chất nào sau đây có phản ứng với dung dịch NaOH và cả với dung dịch HCl?

A. Axit aminoaxetic.

B. Ancol etylic

C. Axit axetic.

D. Anilin

Nhận xét: Có thể thấy ngay A là đúng, nhưng vẫn cần phải đọc lướt qua để khẳng định các phương án sai B, C, D.

c) Cần tính toán nhanh trên giấy nháp để chọn phương án đúng.

Ví dụ: Cho 0,64 gam Cu phản ứng hoàn toàn với dung dịch HNO3 đặc dư. Thể tích khí NO2 (ở đktc) thu được sau phản ứng là:

A. 44,8ml.  B. 448ml.

C.22,4ml.  D. 224ml.

Nhận xét: khi gặp những câu trắc nghiệm có số liệu bằng số, sau khi đọc câu dẫn (bài toán), cần tính toán ngay trên giấy nháp rồi so sánh để chọn phương án đúng.

Viết phương trình hóa học:

Cu + 4HNO3 đặc —> Cu (NO3)2 + 2 NO2 + 2H2O

1mol   0,01 mol                            2 mol    0,02 mol

Thể tích khí NO2 đktc: 0,02×22,4 = 0,448 (lít) = 448 ml.

So sánh với các phương án trả lời ta thấy B là phương án đúng.

Với loại bài này nếu chỉ suy nghĩ mà không giải trên giấy nháp thì sẽ mất thời gian và rất dễ nhầm do chưa cân bằng phương trình hóa học hoặc cân bằng sai, nhầm đơn vị, nhầm số mol.

d) Cần vận dụng kiến thức đã biết, suy đoán nhanh để chọn phương án đúng.

Ví dụ: Dung dịch chất có pH nhỏ hơn 7 là:

A. NaCl.   B. Na2CO3.

C. CH3COONa.  D. AlCl3

Dung dịch có pH nhỏ hơn 7 phải là dung dịch có môi trường axit. Nhận xét từng trường hợp.

- NaCl là muối của axit mạnh và bazơ mạnh: môi trường trung tính.

- Na2CO3 là muối của axit yếu và bazơ yếu: môi trường kiềm.

- CH3COONa là muối của axit yếu và bazơ mạnh: môi trường kiềm.

- AlCl3 là muối của axit mạnh và bazơ yếu: môi trường axit.

Kết luận: chọn D là phương án đúng.

Chú ý: Nếu không nhớ được qui luật trên thì có thể viết phương trình phản ứng thủy phân của ba muối và  kết luận chọn D là phương án đúng.

Ôn thi môn vật lý thế nào cho tốt?

0

Từ năm 2007, đề thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH môn vật lý được ra dưới hình thức trắc nghiệm 100%. Để làm bài thi tốt, HS cần lưu ý một số vấn đề sau:

Nghe đọc nội dung toàn bài:

I. Học bài mới

1. Phần lý thuyết:

- Các định nghĩa, khái niệm, định luật: cần cố gắng hiểu rõ và nhớ chính xác từng ý nghĩa của các mệnh đề được phát biểu.

- Các công thức: cần hiểu rõ ý nghĩa, đơn vị của từng đại lượng.

- Tập thói quen tự làm dàn bài tóm tắt bài học theo ý mình sau khi vừa học xong để sao cho khi học theo dàn bài, ta dễ dàng hiểu và nhớ chính xác bài học.

2. Phần bài tập:

- Làm đầy đủ bài tập (từ dễ đến khó) trong sách giáo khoa và sách bài tập vật lý 12 do Bộ GD-ĐT phát hành. Với hầu hết bài trong các bài tập này, HS sẽ làm được không khó khăn lắm nếu học kỹ phần lý thuyết.

- Ở từng chương trong sách bài tập thường có một hay hai bài tập mức độ khó, cần cố gắng làm những bài tập này sau khi làm các bài tập dễ và trung bình.

II. Ôn tập

- Cần tự làm dàn bài tóm tắt từng chương. Việc làm này nhiều HS tưởng rằng mất thời gian, nhưng thật ra rất tiết kiệm thời gian và rất hiệu quả để nhớ lâu và nắm vững phần lý thuyết (vì chỉ tốn thời gian lần đầu để hệ thống từng chương, những lần sau khi ôn tập rất dễ nhớ lại kiến thức của cả chương).

- Làm lại các bài tập cơ bản trong sách giáo khoa và sách bài tập để nhớ sâu phần lý thuyết và tăng cường kỹ năng nhanh, nhạy trong việc làm các câu hỏi trắc nghiệm định lượng. Cố gắng giải những bài tập mà lần đầu tiên chưa giải được.

Lưu ý thêm:

* Đề thi môn vật lý lúc nào cũng có đủ hai phần định tính và định lượng, HS cần coi trọng cả hai phần lý thuyết và bài tập, đặc biệt không học qua loa phần lý thuyết vì có nắm vững lý thuyết nhuần nhuyễn mới giải quyết tốt các câu hỏi trắc nghiệm định tính và định lượng. Do đó đừng học lý thuyết bằng cách nhồi nhét mà cần phải hiểu thật rõ ý nghĩa để biết phân tích, suy luận khi làm các câu hỏi trắc nghiệm.

* Đề thi trắc nghiệm gồm 50 câu rải đều trong cả chương trình nên không được học tủ, không được bỏ bài học nào.

* Không nên tập trung làm những bài tập quá dài và khó, đòi hỏi nhiều thời gian vì những bài như vậy không phù hợp với lối thi trắc nghiệm (do thời gian không cho phép). Ưu tiên làm các bài tập cơ bản do giáo viên hướng dẫn tại lớp, trong sách giáo khoa và sách bài tập do Bộ GD-ĐT ban hành, sau khi thuần thục mới làm thêm các bài tập phù hợp và giải thử các đề trắc nghiệm để rèn luyện kỹ năng.

III. Các vấn đề cần lưu ý khi làm bài thi trắc nghiệm môn vật lý

- Đọc lần lượt từ trên xuống dưới, câu nào chắc chắn giải được trong thời gian ngắn thì làm ngay và tô ngay phương án lựa chọn vào phiếu trả lời.

- Lần thứ nhì tiếp tục giải những câu khó hơn và cứ tiếp tục đến khi hết thời gian.

Lưu ý thêm:

* Đợt làm đầu tiên không nên “sa lầy” vào những câu làm mất quá nhiều thời gian, vì câu nào cũng có điểm như nhau, không phân biệt câu dễ hay khó. Mặt khác, nếu số câu hỏi còn nhiều mà thời gian làm bài còn ít sẽ mất bình tĩnh dẫn đến làm sai nhiều.

* Khi thời gian làm bài thi gần hết mà còn một số câu chưa giải quyết xong, nên chọn nhanh phương án trả lời cho tất cả câu này, không bỏ sót câu nào.

VÕ VĂN DŨNG
(phó hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền, TP.HCM)

Go to Top